Tranh chấp giữa người lao động và người sử dụng lao động - luật sư giỏi - luật sư uy tín - văn phòng luật sư - luật sư giỏi hồ chí minh - luật sư

Tranh chấp giữa người lao động và người sử dụng lao động - luật sư giỏi - luật sư uy tín - văn phòng luật sư - luật sư giỏi hồ chí minh - luật sư

Tranh chấp giữa người lao động và người sử dụng lao động - luật sư giỏi - luật sư uy tín - văn phòng luật sư - luật sư giỏi hồ chí minh - luật sư

Tranh chấp giữa người lao động và người sử dụng lao động - luật sư giỏi - luật sư uy tín - văn phòng luật sư - luật sư giỏi hồ chí minh - luật sư

Tranh chấp giữa người lao động và người sử dụng lao động - luật sư giỏi - luật sư uy tín - văn phòng luật sư - luật sư giỏi hồ chí minh - luật sư
Tranh chấp giữa người lao động và người sử dụng lao động - luật sư giỏi - luật sư uy tín - văn phòng luật sư - luật sư giỏi hồ chí minh - luật sư

Tranh chấp giữa người lao động và người sử dụng lao động

06-08-2020
Tranh chấp lao động là những tranh chấp về quyền và lợi ích liên quan đến việc làm, tiền lương, thu nhập và các điều kiện lao động khác, về thực hiện hợp đồng lao động, thoả ước tập thể và trong quá trình học nghề. Tranh chấp lao động bao gồm tranh chấp lao động cá nhân giữa người lao động với người sử dụng lao động và tranh chấp tập thể giữa tập thể lao động với người sử dụng lao động.

Trong suốt quá trình tham gia lao động, việc xảy ra tranh chấp là điều khó tránh khỏi. Có rất nhiều nguyên nhân dẫn đến tranh chấp lao động, nổi bật trong số đó là do người lao động không được đảm bảo các quyền và lợi ích mà họ được hưởng.

Theo quy định tại khoản 7 Điều 3 Bộ luật lao động 2012, tranh chấp lao động là tranh chấp về quyền, nghĩa vụ và lợi ích phát sinh giữa các bên trong quan hệ lao động.

Theo đó, chỉ có những tranh chấp có nguồn gốc phát sinh từ những mâu thuẫn trong quan hệ lao động về quyền, lợi ích, nghĩa vụ mới được coi là tranh chấp lao động. Đây là điểm đặc thù của loại tranh chấp này.

Mục lục 

1 Tranh chấp lao động

2  chế giải quyết tranh chấp lao động cá nhân theo pháp luật Việt Nam 

3  tranh chấp về lao động thuộc thẩm quyền giải quyết của Toà án. 

3.1 Tranh chấp lao động cá nhân giữa người lao động với người sử dụng lao động

3.2 Tranh chấp lao động tập thể giữa tập thể lao động với người sử dụng lao động

3.3 Những yêu cầu về lao động thuộc thẩm quyền giải quyết của Toà án

1 Tranh chấp lao động

a) Tranh chấp lao động là tranh chấp về quyền và nghĩa vụ, lợi ích phát sinh giữa các bên trong quá trình xác lập, thực hiện hoặc chấm dứt quan hệ lao động; tranh chấp giữa các tổ chức đại diện người lao động với nhau; tranh chấp phát sinh từ quan hệ có liên quan trực tiếp đến quan hệ lao động. Các loại tranh chấp lao động bao gồm:

 - Tranh chấp lao động cá nhân giữa người lao động với người sử dụng lao động; giữa người lao động với doanh nghiệp, tổ chức đưa người lao động đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng; giữa người lao động thuê lại với người sử dụng lao động thuê lại;

 - Tranh chấp lao động tập thể về quyền hoặc về lợi ích giữa một hay nhiều tổ chức đại diện người lao động với người sử dụng lao động hoặc một hay nhiều tổ chức của người sử dụng lao động.

 b) Tranh chấp lao động tập thể về quyền là tranh chấp giữa một hay nhiều tổ chức đại diện người lao động với người sử dụng lao động hoặc một hay nhiều tổ chức của người sử dụng lao động phát sinh trong trường hợp sau đây:

- Có sự khác nhau trong việc hiểu và thực hiện quy định của thỏa ước lao động tập thể, nội quy lao động, quy chế và thỏa thuận hợp pháp khác;

 - Có sự khác nhau trong việc hiểu và thực hiện quy định của pháp luật về lao động;

- Khi người sử dụng lao động có hành viphân biệt đối xử đối với người lao động, thành viên ban lãnh đạo của tổ chức đại diện người lao động vì lý do thành lập, gia nhập, hoạt động trong tổ chức đại diện người lao động; can thiệp, thao túng tổ chức đại diện người lao động; vi phạm nghĩa vụ về thương lượng thiện chí.

c)Tranh chấp lao động tập thể về lợi ích bao gồm:

- Tranh chấp lao động phát sinh trong quá trình thương lượng tập thể;

 - Khi một bên từ chối thương lượng hoặc không tiến hành thương lượng trong thời hạn theo quy định của pháp luật

2  chế giải quyết tranh chấp lao động cá nhân theo pháp luật Việt Nam

Theo quy định của pháp luật Việt Nam, cơ chế giải quyết TCLĐ cá nhân được thực hiện bởi hoà giải viên lao động và Toà án nhân dân. Theo cơ chế này, khi một TCLĐ cá nhân phát sinh, các bên sẽ được quyền:

Bước 1. Yêu cầu hoà giải tại hoà giải viên lao động trong thời hạn 06 tháng, kể từ ngày phát hiện ra hành vi mà mỗi bên tranh chấp cho rằng quyền, lợi ích hợp pháp của mình bị vi phạm (khoản 1 Điều 202 BLLĐ 2012).

Trong thời hạn 05 ngày làm việc, kể từ ngày nhận được yêu cầu hoà giải, hòa giải viên lao động phải kết thúc việc hòa giải bằng biên bản hoà giải thành hoặc biên bản hoà giải không thành, tuỳ từng trường hợp (Khoản 3 Điều 201 BLLĐ 2012). Điều 201 còn đặt ra yêu cầu, hoà giải viên lao động phải có nghĩa vụ tiến hành cho các bên thương lượng trước khi tiến hành hoà giải. Chúng tôi cho rằng, đây là một quy định phù hợp về mặt thực tiễn cũng như quy định của pháp luật lao động, bởi lẽ, nguyên tắc đầu tiên trong giải quyết TCLĐ là: “Tôn trọng, bảo đảm để các bên tự thương lượng, quyết định trong giải quyết TCLĐ”. Với cơ chế hiện hành, hoà giải viên lao động là chủ thể duy nhất có nghĩa vụ hỗ trợ các bên tiến hành thương lượng để giải quyết tranh chấp. Tuy nhiên, chúng tôi cũng cho rằng, nhiệm vụ này lại nằm ngoài khuôn khổ chức năng, nhiệm vụ của hoà giải viên lao động. Theo quy định của Điều 198 BLLĐ 2012, “Hoà giải viên lao động do cơ quan quản lý nhà nước về lao động huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh cử để hoà giải TCLĐ và tranh chấp về hợp đồng đào tạo nghề”. Với nội dung quy định này, hòa giải viên lao động không thể tổ chức cho các bên thương lượng để hòa giải TCLĐ được.

Bước 2. Hoà giải là thủ tục bắt buộc đối với các TCLĐ cá nhân trừ những trường hợp được liệt kê theo khoản 1 Điều 201 BLLĐ 2012. Trong trường hợp hoà giải không thành hoặc một trong hai bên không thực hiện các thỏa thuận trongbiên bản hòa giải thành hoặc hết thời hạn giải quyết theo quy định tại khoản 2 Điều này mà hoà giải viên lao động không tiến hành hoà giải thì mỗi bên tranh chấp có quyền yêu cầu Toà án giải quyết (Khoản 4 Điều 201 BLLĐ 2012).

Tuy nhiên, để đảm bảo vụ kiện lao động được Toà án giải quyết, theo quy định tại khoản 2 Điều 202 BLLĐ 2012 “Thời hiệu yêu cầu Toà án giải quyết TCLĐ cá nhân là 01 năm, kể từ ngày phát hiện ra hành vi mà mỗi bên tranh chấp cho rằng quyền, lợi ích hợp pháp của mình bị vi phạm”. Quy định này về thời hiệu khởi kiện trong BLLĐ có tác dụng thiết lập thời hiệu khởi kiện riêng cho các TCLĐ cá nhân so với thời hiệu khởi kiện các vụ án dân sự. Tuy nhiên, chúng tôi cho rằng, có sự không rõ ràng trong quy định này khi đặt trong mối quan hệ với thời hiệu yêu cầu hoà giải các TCLĐ cá nhân. Cụ thể là, đối với yêu cầu hoà giải TCLĐ cá nhân, theo quy định tại Khoản 1 Điều 202 thời hiệu yêu cầu là 06 tháng “kể từ ngày phát hiện ra hành vi mà mỗi bên tranh chấp cho rằng quyền, lợi ích hợp pháp của mình bị vi phạm”. Trong khi đó, thời hiệu khởi kiện yêu cầu giải quyết TCLĐ là 01 năm “kể từ ngày phát hiện ra hành vi mà mỗi bên tranh chấp cho rằng quyền, lợi ích hợp pháp của mình bị vi phạm”.

3  tranh chấp về lao động thuộc thẩm quyền giải quyết của Toà án. 

3.1 Tranh chấp lao động cá nhân giữa người lao động với người sử dụng lao động

Hội đồng hoà giải lao động cơ sở, hoà giải viên lao động của cơ quan quản lý nhà nước về lao động quận, huyện, thị xã, thành phố thuộc tỉnh hoà giải không thành hoặc không giải quyết trong thời hạn do pháp luật quy định, trừ các tranh chấp sau đây không nhất thiết phải qua hoà giải tại cơ sở:

a)  Về xử lý kỷ luật lao động theo hình thức sa thải hoặc về trường hợp bị đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động;

b)  Về bồi thường thiệt hại giữa người lao động và người sử dụng lao động; về trợ cấp khi chấm dứt hợp đồng lao động;

c)  Giữa người giúp việc gia đình với người sử dụng lao động;

d)  Về bảo hiểm xã hội theo quy định của pháp luật về lao động;

đ)  Về bồi thường thiệt hại giữa người lao động với doanh nghiệp xuất khẩu lao động.

3.2 Tranh chấp lao động tập thể giữa tập thể lao động với người sử dụng lao động

Tranh chấp lao động tập thể lao động và người sử dụng lao động đã được Hội đồng trọng tài lao động tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương giải quyết mà tập thể lao động hoặc người sử dụng lao động không đồng ý với quyết định của Hội đồng trọng tài lao động, bao gồm:

a)  Về quyền và lợi ích liên quan đến việc làm, tiền lương, thu nhập và các điều kiện lao động khác;

b)  Về việc thực hiện thoả ước lao động tập thể;

c)  Về quyền thành lập, gia nhập, hoạt động công đoàn.

d)  Các tranh chấp khác về lao động mà pháp luật  có quy định.

3.3 Những yêu cầu về lao động thuộc thẩm quyền giải quyết của Toà án

  •  Yêu cầu công nhận và cho thi hành tại Việt Nam bản án, quyết định lao động của Toà án nước ngoài hoặc không công nhận bản án, quyết định lao động của Toà án nước ngoài mà không có yêu cầu thi hành tại Việt Nam.
  •  Yêu cầu công nhận và cho thi hành tại Việt Nam quyết định lao động của Trọng tài nước ngoài.
  • Các yêu cầu khác về lao động mà pháp luật có quy định.

Hoàng Thịnh Luật sẽ giúp bạn giải quyết trong suốt quá trình giải quyết tranh chấp để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho bạn.


 

CÔNG TY LUẬT TNHH HOÀNG THỊNH LUẬT

 
Luật sư

Luật sư Đầu tư nước ngoài: 09138.490.072

Luật sư Doanh nghiệp: 

09138.490.072

Luật sư Dân sự

tuệ: 09138.490.072

E:info@hoangthinhluat.com

 

Dịch vụ kế toán - thuế: 09138.490.072

Luật sư tư vấn Giấy phép: 

09138.490.072

Tư vấn hợp đồng: 09138.490.072

E:info@hoangthinhluat.com

 

Luật sư

Hotline: 0913.849.072 (Mr. Hoang) (Zalo, Viber, Whatsapp)..

English speaking: (+84) 913849072 (Mr. Hoang) (Zalo, Viber, Whatsapp) CÔNG TY LUẬT TNHH HOÀNG THỊNH LUẬT

lĩnh vực hoạt động

Chính sách pháp luật mới

liên kết website

CÔNG TY LUẬT TNHH HOÀNG THỊNH LUẬT