Phạm tội giết người khi chưa đủ 18 tuổi: mức phạt theo quy định mới nhất 2026

 

Giết người khi chưa đủ 18 tuổi bị phạt bao nhiêu năm tù? Từ ngày 01/01/2026, vấn đề này phải được xác định theo Điều 123 Bộ luật Hình sự kết hợp Điều 119 Luật Tư pháp người chưa thành niên số 59/2024/QH15. Mức án phụ thuộc độ tuổi tại thời điểm phạm tội, khoản của Điều 123, vai trò đồng phạm và hành vi đã hoàn thành, chưa đạt hay mới ở giai đoạn chuẩn bị.Người dưới 18 tuổi không bị áp dụng tử hình hoặc tù chung thân. Tuy nhiên, tội giết người thuộc nhóm tội đặc biệt được Luật 59/2024/QH15 quy định mức tù tối đa cao hơn nhóm tội thông thường: người từ đủ 16 đến dưới 18 tuổi có thể bị phạt tối đa 18 năm; người từ đủ 14 đến dưới 16 tuổi có thể bị phạt tối đa 12 năm.

  • Dưới 14 tuổi: không phải chịu trách nhiệm hình sự về tội giết người; vẫn có thể phát sinh biện pháp bảo vệ, giáo dục và trách nhiệm bồi thường theo pháp luật liên quan.
  • Từ đủ 14 đến dưới 16 tuổi: nếu áp dụng khoản 1 Điều 123, mức cao nhất không quá 12 năm tù; nếu áp dụng khoản 2 Điều 123, mức cao nhất không quá 7 năm 6 tháng tù.
  • Từ đủ 16 đến dưới 18 tuổi: nếu áp dụng khoản 1 Điều 123, mức cao nhất không quá 18 năm tù; nếu áp dụng khoản 2 Điều 123, mức cao nhất không quá 11 năm 3 tháng tù.
  • Tuổi được tính tại thời điểm thực hiện hành vi, không phải tuổi khi khởi tố hoặc xét xử.
  • Mức trên là giới hạn tối đa, không phải mọi vụ án đều bị tuyên mức tối đa.
giết người khi chưa đủ 18 tuổi
giết người khi chưa đủ 18 tuổi

Người chưa đủ 18 tuổi phạm tội giết người bị phạt bao nhiêu?

Độ tuổi khi phạm tội Khoản 1 Điều 123 có chung thân/tử hình Khoản 2 Điều 123: tù 7–15 năm
Dưới 14 tuổi Không chịu trách nhiệm hình sự về tội giết người.
Từ đủ 14 đến dưới 16 tuổi Tối đa 12 năm tù theo khoản 4 Điều 119 Luật 59/2024/QH15 Tối đa 1/2 của 15 năm, tức 7 năm 6 tháng
Từ đủ 16 đến dưới 18 tuổi Tối đa 18 năm tù theo khoản 2 Điều 119 Luật 59/2024/QH15 Tối đa 3/4 của 15 năm, tức 11 năm 3 tháng

Tòa án quyết định hình phạt cụ thể trong giới hạn trên sau khi đánh giá tính chất, mức độ hành vi, hậu quả, nhân thân, vai trò, khả năng nhận thức, hoàn cảnh gia đình, nguyên nhân phạm tội và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ.

Lưu ý pháp luật mới: các mức 15 năm và 9 năm là giới hạn chung mới đối với nhiều tội khác. Riêng tội giết người thuộc danh sách ngoại lệ tại khoản 2 và khoản 4 Điều 119 nên giới hạn có thể vẫn là 18 năm và 12 năm. Vì vậy, áp dụng máy móc mức chung 15/9 năm cho mọi vụ giết người là không chính xác.

Bao nhiêu tuổi phải chịu trách nhiệm hình sự về tội giết người?

Người dưới 14 tuổi

Người chưa đủ 14 tuổi tại thời điểm thực hiện hành vi không phải chịu trách nhiệm hình sự. Việc xử lý cần đặt trong cơ chế bảo vệ, giáo dục, chăm sóc và trách nhiệm dân sự phù hợp; không được gọi người đó là bị can hoặc bị cáo về tội giết người nếu chưa đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự.

Người từ đủ 14 đến dưới 16 tuổi

Theo Điều 12 Bộ luật Hình sự, nhóm tuổi này phải chịu trách nhiệm hình sự đối với tội giết người trong phạm vi luật định. Cơ quan tố tụng phải chứng minh chính xác ngày, tháng, năm sinh và năng lực nhận thức của người bị buộc tội.

Người từ đủ 16 đến dưới 18 tuổi

Nhóm tuổi này phải chịu trách nhiệm hình sự về mọi tội phạm, trừ trường hợp Bộ luật Hình sự có quy định khác. Khi quyết định hình phạt vẫn phải áp dụng nguyên tắc và giới hạn riêng của Luật Tư pháp người chưa thành niên.

Tuổi nào được dùng để tính? Là tuổi tại thời điểm hành vi phạm tội xảy ra. Nếu không xác định được chính xác ngày, tháng sinh, cơ quan có thẩm quyền phải xác định tuổi theo trình tự dành cho người chưa thành niên, bảo đảm nguyên tắc có lợi khi pháp luật quy định.

Dấu hiệu cấu thành tội giết người

Hành vi khách quan

Hành vi tước đoạt trái pháp luật tính mạng của người khác có thể được thực hiện bằng hành động hoặc trong trường hợp đặc biệt bằng không hành động khi người đó có nghĩa vụ phải hành động. Tội giết người là tội có cấu thành vật chất; nếu nạn nhân không chết vì nguyên nhân ngoài ý muốn của người thực hiện thì có thể xem xét phạm tội chưa đạt.

Lỗi và ý thức chủ quan

Tội giết người được thực hiện với lỗi cố ý trực tiếp hoặc cố ý gián tiếp. Việc xác định ý thức tước đoạt tính mạng phải dựa trên công cụ, vị trí tác động, cường độ, số lần, lời nói, hành vi trước và sau sự việc, quan hệ giữa các bên và toàn bộ chứng cứ.

Khách thể và chủ thể

Hành vi xâm phạm quyền sống của con người. Chủ thể phải đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự và có năng lực trách nhiệm hình sự. Với người chưa thành niên, mức độ phát triển thể chất, tinh thần và khả năng nhận thức là những vấn đề bắt buộc cần xác định trong tố tụng.

Khung hình phạt của tội giết người theo Điều 123

Khoản 1 Điều 123

Đối với người thành niên, khoản 1 quy định phạt tù 12–20 năm, tù chung thân hoặc tử hình khi thuộc một trong các tình tiết định khung như:

  • Giết từ hai người trở lên; giết người dưới 16 tuổi; giết phụ nữ mà biết là có thai;
  • Giết người đang thi hành công vụ hoặc vì lý do công vụ của nạn nhân;
  • Giết ông, bà, cha, mẹ, người nuôi dưỡng, thầy giáo hoặc cô giáo của mình;
  • Để thực hiện hoặc che giấu tội phạm khác; để lấy bộ phận cơ thể của nạn nhân;
  • Thực hiện một cách man rợ; bằng phương pháp có khả năng làm chết nhiều người;
  • Thuê giết người hoặc giết người thuê; có tính chất côn đồ; có tổ chức;
  • Tái phạm nguy hiểm hoặc vì động cơ đê hèn;
  • Các trường hợp định khung khác được khoản 1 Điều 123 quy định.

Đối với người chưa đủ 18 tuổi, không áp dụng tù chung thân hoặc tử hình mà chuyển sang giới hạn tù có thời hạn tại Điều 119 Luật 59/2024/QH15.

Khoản 2 Điều 123

Trường hợp giết người không thuộc các tình tiết khoản 1, người thành niên bị phạt tù 7–15 năm. Với người chưa thành niên phạm tội giết người, mức cao nhất được tính theo tỷ lệ đặc biệt: 1/2 đối với nhóm 14–dưới 16 tuổi và 3/4 đối với nhóm 16–dưới 18 tuổi.

giết người khi chưa đủ 18 tuổi
giết người khi chưa đủ 18 tuổi

Điểm mới áp dụng từ Luật Tư pháp người chưa thành niên 2024

Luật số 59/2024/QH15 có hiệu lực từ 01/01/2026 và điều chỉnh hình phạt, xử lý chuyển hướng, tố tụng, thi hành án và tái hòa nhập đối với người chưa thành niên. Khi giải quyết vụ án năm 2026, không nên chỉ dẫn Điều 101 Bộ luật Hình sự như trước đây.

  • Chỉ áp dụng một trong bốn hình phạt: cảnh cáo, phạt tiền, cải tạo không giam giữ hoặc tù có thời hạn;
  • Ưu tiên giáo dục, phục hồi và tái hòa nhập; hình phạt tù là biện pháp nghiêm khắc được cân nhắc theo tính chất vụ án;
  • Giới hạn tù thông thường giảm còn 15 năm hoặc 9 năm, nhưng tội giết người thuộc nhóm ngoại lệ 18 năm hoặc 12 năm;
  • Có cơ chế xử lý chuyển hướng, nhưng người phạm tội giết người không mặc nhiên đủ điều kiện áp dụng;
  • Thủ tục phải bảo đảm lợi ích tốt nhất, giữ bí mật cá nhân, hạn chế tác động tiêu cực và tạo điều kiện cho người chưa thành niên tham gia tố tụng.

Tội giết người có được xử lý chuyển hướng không?

Phần lớn trường hợp cố ý thực hiện tội giết người rất nghiêm trọng hoặc đặc biệt nghiêm trọng không thuộc diện xử lý chuyển hướng theo Điều 37 và Điều 38. Tuy nhiên, Luật có quy định ngoại lệ đối với người đồng phạm có vai trò không đáng kể. Việc áp dụng phải xem xét đúng tuổi, phân loại tội phạm, vai trò và điều kiện cụ thể; không thể khẳng định chung rằng mọi người chưa thành niên đều được chuyển hướng.

Chuẩn bị phạm tội và phạm tội chưa đạt bị xử lý thế nào?

Chuẩn bị phạm tội giết người

Khoản 3 Điều 123 quy định người chuẩn bị phạm tội giết người có thể bị phạt tù 1–5 năm đối với người thành niên. Theo Điều 120 Luật 59/2024/QH15:

  • Người từ đủ 14 đến dưới 16 tuổi: mức cao nhất không quá 1/3 của 5 năm;
  • Người từ đủ 16 đến dưới 18 tuổi: mức cao nhất không quá 1/2 của 5 năm.

Phạm tội giết người chưa đạt

Khi người thực hiện đã bắt đầu hành vi nhằm tước đoạt tính mạng nhưng nạn nhân không chết vì nguyên nhân ngoài ý muốn, có thể xác định là phạm tội chưa đạt. Mức cao nhất đối với người từ đủ 14 đến dưới 16 tuổi không quá 1/3 mức tại các Điều 117–119; đối với người từ đủ 16 đến dưới 18 tuổi không quá 1/2 theo khoản 3 Điều 120.

Việc phân biệt chuẩn bị, chưa đạt và tội đã hoàn thành ảnh hưởng rất lớn đến hình phạt, nên cần dựng lại diễn biến bằng giám định, camera, hung khí, lời khai và nguyên nhân nạn nhân không tử vong.

Phân biệt giết người với cố ý gây thương tích làm chết người

Tiêu chí Tội giết người Cố ý gây thương tích dẫn đến chết người
Ý thức chủ quan Mong muốn nạn nhân chết hoặc nhận thức hậu quả chết người có thể xảy ra và bỏ mặc. Mục đích trực tiếp là gây thương tích; hậu quả chết người nằm ngoài ý thức mong muốn.
Cách thức đánh giá Dựa trên hung khí, vị trí trọng yếu, lực tác động, số lần, diễn biến, lời nói, nguyên nhân dừng và hành vi cứu giúp sau đó.
Hậu quả Nạn nhân chết hoặc không chết do nguyên nhân ngoài ý muốn trong trường hợp phạm tội chưa đạt. Nạn nhân chết do thương tích đã gây ra nhưng không chứng minh được ý thức tước đoạt tính mạng.
Căn cứ chính Điều 123 Bộ luật Hình sự. Điều 134 Bộ luật Hình sự, tùy tình tiết.

Không được chỉ căn cứ hậu quả chết người để kết luận tội giết người. Bạn có thể xem thêm bài phân biệt gây thương tích dẫn đến chết người.

Quyền bào chữa và những vấn đề phải làm rõ

Người bị buộc tội dưới 18 tuổi phải được áp dụng thủ tục tố tụng dành riêng cho người chưa thành niên. Nếu họ hoặc người đại diện không mời người bào chữa, cơ quan có thẩm quyền phải chỉ định người bào chữa theo trường hợp luật định.

Những vấn đề trọng tâm của hồ sơ

  1. Tuổi chính xác tại thời điểm thực hiện hành vi;
  2. Mức độ phát triển thể chất, tinh thần và khả năng nhận thức;
  3. Ý thức tước đoạt tính mạng hay chỉ nhằm gây thương tích;
  4. Vai trò chủ mưu, thực hành, giúp sức hoặc vai trò không đáng kể;
  5. Hành vi thuộc khoản 1 hay khoản 2 Điều 123;
  6. Tội đã hoàn thành, chưa đạt hay mới ở giai đoạn chuẩn bị;
  7. Có phòng vệ chính đáng, vượt quá giới hạn, kích động mạnh hoặc tình tiết loại trừ trách nhiệm khác không;
  8. Nguyên nhân, hoàn cảnh gia đình, môi trường sống, việc bị lôi kéo hoặc đe dọa;
  9. Việc tự thú, đầu thú, khai báo, cứu giúp nạn nhân, bồi thường và khắc phục hậu quả;
  10. Khả năng giáo dục, phục hồi và tái hòa nhập.
Gia đình nên làm ngay: giữ dữ liệu điện thoại, camera, tin nhắn, hồ sơ học tập và sức khỏe; không hướng dẫn trẻ khai sai; yêu cầu có người đại diện và luật sư khi làm việc; ghi nhận việc giao nhận giấy tờ, đồ vật và đề nghị sao chụp tài liệu theo quyền tố tụng.

Tham khảo thêm quy trình nhờ luật sư bào chữa trong vụ án hình sự hoặc dịch vụ luật sư hình sự của Hoàng Thịnh Luật.

Người chưa đủ 18 tuổi có phải bồi thường không?

Trách nhiệm hình sự và trách nhiệm bồi thường dân sự là hai vấn đề khác nhau. Việc bồi thường chi phí cứu chữa, mai táng, cấp dưỡng, tổn thất tinh thần và thiệt hại hợp lý khác được xác định theo Bộ luật Dân sự và hồ sơ thực tế.

  • Người chưa đủ 15 tuổi gây thiệt hại: cha, mẹ thường phải bồi thường; nếu tài sản của cha, mẹ không đủ mà người con có tài sản riêng thì dùng tài sản riêng bù phần còn thiếu, trừ trường hợp luật có quy định khác;
  • Người từ đủ 15 đến dưới 18 tuổi: phải bồi thường bằng tài sản của mình; nếu không đủ thì cha, mẹ bồi thường phần còn thiếu bằng tài sản của họ;
  • Trường hợp thiệt hại xảy ra trong thời gian trường học hoặc chủ thể khác trực tiếp quản lý cần xem xét quy định trách nhiệm tương ứng.

Căn cứ pháp lý áp dụng năm 2026

Câu hỏi thường gặp

Người 13 tuổi giết người có bị đi tù không?

Không. Người chưa đủ 14 tuổi không phải chịu trách nhiệm hình sự. Tuy nhiên, cơ quan có thẩm quyền vẫn xác minh sự việc và áp dụng cơ chế bảo vệ, giáo dục; trách nhiệm bồi thường được giải quyết theo pháp luật dân sự.

Người 15 tuổi phạm tội giết người bị phạt tối đa bao nhiêu?

Nếu thuộc khoản 1 Điều 123, mức cao nhất không quá 12 năm tù. Nếu thuộc khoản 2 Điều 123, mức cao nhất không quá 7 năm 6 tháng theo khoản 4 Điều 119 Luật 59/2024/QH15.

Người 17 tuổi phạm tội giết người có bị tù chung thân không?

Không. Người chưa đủ 18 tuổi không bị áp dụng tù chung thân hoặc tử hình. Với khoản 1 Điều 123, mức tù có thời hạn cao nhất là 18 năm.

Nạn nhân không chết thì có bị xử lý về tội giết người không?

Có thể nếu chứng minh được ý thức tước đoạt tính mạng và việc nạn nhân không chết là ngoài ý muốn người thực hiện. Trường hợp đó có thể là phạm tội giết người chưa đạt.

Tội giết người có được xử lý chuyển hướng không?

Phần lớn trường hợp không đủ điều kiện do tính chất rất nghiêm trọng hoặc đặc biệt nghiêm trọng. Luật vẫn có ngoại lệ cần xem xét cho người đồng phạm có vai trò không đáng kể.

Cha mẹ có phải chịu trách nhiệm hình sự thay con không?

Không. Trách nhiệm hình sự mang tính cá nhân. Cha mẹ không chịu án thay con nhưng có thể phát sinh nghĩa vụ bồi thường, giám sát và tham gia tố tụng theo quy định.

Liên hệ luật sư bào chữa cho người chưa thành niên

Công ty Luật TNHH MTV Hoàng Thịnh Luật hỗ trợ kiểm tra tuổi, tội danh, vai trò, kết luận giám định, thủ tục tố tụng và các căn cứ áp dụng Luật Tư pháp người chưa thành niên. Luật sư không cam kết trước kết quả; phương án bào chữa được xây dựng từ chứng cứ hợp pháp và quyền lợi tốt nhất của người chưa thành niên.

Trao đổi hồ sơ với Luật sư Phan Minh Hoàng

Nội dung được cập nhật ngày 11/08/2026, mang tính tham khảo pháp luật chung và không thay thế tư vấn cho vụ án cụ thể. Tội danh, khung hình phạt và thủ tục phụ thuộc tuổi tại thời điểm phạm tội, chứng cứ, vai trò, giai đoạn thực hiện hành vi và quy định có hiệu lực.